Were Jesus’ miracles really true?

http://faithbookorthodoxy.wordpress.com

FAITHBOOK – ORTHODOXY

Were Jesus’ miracles really true?

The fact that Jesus was sent from God clearly indicates that he was able to perform miracles. This was recognised not just by the disciples, but by others too. For example in John 3:2, Nicodemus, a Pharisee, says of Jesus:

“Rabbi, we know that you are a teacher who has come from God, for no one can do these signs that you are doing unless God is with him.”

Another example is the feeding of the 5,000, which is found in all four gospels.

Advertisements

How can Jesus be both God and Man?

http://heavenonearthorthodoxy.wordpress.com

HEAVEN ON EARTH – ORTHODOXY

How can Jesus be both God and Man ?

In John 1:14 we read that “…the Word became flesh and made his dwelling among us…”

This is what Christians call the Incarnation: Christ was truly God and yet truly man. His two natures were not merged or confused in any way, but were totally separate. Christ could identify with every human emotion (he wept for example – See John 11:35), yet as God he had the authority to forgive sins (see Luke 5:20).

Paul expressed his belief in Jesus position as truly God and truly man as follows:

“For in him dwells the whole fullness of the deity bodily” (Colossians 2:9).

Cơ Đốc giáo là gì? Niềm tin của người Cơ Đốc là gì? ╰⊰¸¸.•¨* Vietnamese

http://vietnamofmyheart.wordpress.com

VIETNAM OF MY HEART

Cơ Đốc giáo là gì? Niềm tin của người Cơ Đốc là gì?

Niềm tin căn bản của Cơ Đốc giáo được tóm tắt trong I Cô-rinh-tô 15:1-4. Chúa Giê-xu chết vì tội lỗi của chúng ta, chịu chôn, đã sống lại, và qua đó ban sự cứu rỗi cho những ai tin nhận Ngài trong đức tin. Đặc biệt so với các niềm tin khác, Cơ Đốc giáo tập trung về mối liên hệ nhiều hơn là thực hành nghi lễ. Thay vì nỗ lực làm theo một bản danh sách “Làm và không làm”, mục tiêu của người Cơ Đốc là chuyên tâm đồng đi với Đức Chúa Trời. Mối liên hệ đó có trở thành sự thật nhờ vào công trình của Chúa Giê-xu và công tác của Đức Thánh Linh.

Ngoài những niềm tin căn bản kể trên, thì có nhiều điều khác sẽ mô tả hoặc ít nhất là gợi ý về Cơ Đốc giáo là gì và Cơ Đốc giáo tin gì. Người Cơ Đốc tin rằng Kinh Thánh được soi dẫn, Lời được “hà hơi” của Chúa và những giáo huấn trong đó là thẩm quyển cuối cùng của đức tin và thực (2 Ti-mô-thê 3:16, 2 Phi-e-rơ 1:20-21). Người Cơ Đốc tin vào một Đức Chúa Trời tồn tại trong ba thân vị Continue reading “Cơ Đốc giáo là gì? Niềm tin của người Cơ Đốc là gì? ╰⊰¸¸.•¨* Vietnamese”

Wie is Jesus Christus? ╰⊰¸¸. •¨* Afrikaans

http://textsorthodoxy.wordpress.com

TEXTS – ORTHODOXY

Wie is Jesus Christus?

Wat het Jesus gesê oor wie Hy was? Wat sê die Bybel van wie Hy was? Kom ons kyk eerstens na Jesus se woorde in Johannes 10:30, “Ek en die Vader is een.” Met die eerste oogopslag lyk dit nie asof Jesus daarop aanspraak maak dat Hy God is nie, maar kyk na die Jode se reaksie op hierdie stelling, “Dit gaan nie daaroor dat jy mense gehelp het nie. Wat ons briesend maak, is dat jy God beledig. Jy, wat ’n gewone mens is, stel jouself sommer as God aan. Waar het jy dít nou al gehoor?” (Johannes 10:33). Die Jode het gedink dat Jesus in sy stelling daarop aanspraak maak dat Hy God is. In die daaropvolgende verse het Jesus nooit die Jode anders probeer oortuig deur te sê, “Ek maak nie daarop aanspraak dat ek God is nie.” Dit dui daarop dat Jesus gesê het Hy is God deur te sê, “ Ek en die Vader is een” (Johannes 10:30). Johannes 8:58 is nog ’n voorbeeld waar Jesus gesê het: “Luister hierna: Abraham was nog nie eens gebore nie, toe was ek al daar.” In reaksie hierop het die Jode weereens klippe opgetel om Jesus te stenig (Johannes 8:59). Jesus het gesê “Ek-wat-is”, wat ’n direkte toepassing van die Ou-Testamentiese naam vir God is (Eksodus 3:14). Hoekom sou die Jode Jesus wou stenig as die Hy nie iets gesê het wat hulle geglo het lasterlik was nie, naamlik ’n aanspraak daarop om God te wees?

Johannes 1:1 sê dat “die Woord was God.” Johannes 1:14 sê “Jesus het toe as mens aarde toe gekom.” Dit dui baie duidelik daarop dat Jesus God as mens is. Die dissipel Thomas het aan Jesus gesê, “My Here en my God!” (Johannes 20:28). Jesus het hom nie reg gehelp nie. Die Apostel Paulus beskryf Hom as, “…ons wonderlike God en Verlosser, Jesus Christus” (Titus 2:13). Die Apostel Petrus sê dieselfde, “…ons God en Verlosser, Jesus Christus” (2 Petrus 1:1). God die Vader is ook getuie van Jesus se identiteit, “Maar van sy Seun sê Hy: U, o God, sal vir ewig en altyd heers. Soos ’n koning sal U vir altyd goed en reg regeer.” Ou-Testamentiese profesieë van Christus kondig sy Goddelikheid aan, “Daar is vir ons ’n Kind gebore! Dit is ’n Seun wat aan ons gegee is! Hy sal oor ons regeer en sy koninklike titels sal wees: Spesiale Raadsman, God wat sterk is, Ewige Vader, Koning van Vrede.”

Bạn có biết cử chỉ này trên ảnh của Chúa Kitô có nghĩa là gì? ╰⊰¸¸.•¨* Vietnamese

http://heavenonearthorthodoxy.wordpress.com

HEAVEN ON EARTH – ORTHODOXY

Bạn có biết cử chỉ này trên ảnh của Chúa Kitô có nghĩa là gì?

Những bức ảnh Chúa Kitô hoặc các Thánh được vẽ theo lối ảnh thánh cổ thế này được gọi là icon, ngày nay phổ biến trong các Giáo Hội Chính Thống. Một trong những bức icon phổ biến nhất là icon Chúa Kitô Pantokrator.

Bức icon này thường vẽ tay trái Chúa cầm một quyển sách, tay phải đưa lên với ngón áp (đôi khi cùng với ngón út) gập xuống chạm vào ngón cái, các ngón tay còn lại chỉ lên cong cong theo thế thả lỏng. Nhưng liệu bạn có hiểu được cử chỉ tay phải của Chúa Kitô trên bức icon này có nghĩa là gì?

Những bức icon cổ nhất của Chính Thống Giáo còn tồn tại đến nay vốn được tìm thấy ở Rôma, do đó người ta tin rằng những hoạ sĩ icon đầu tiên đã dung nạp các cử chỉ hùng biện của La Mã để vẽ Chúa Kitô, Đức Maria, các Thánh và các Thiên thần. Ví dụ như, trong bức icon Truyền tin dưới đây, Thiên thần Gaprien đang giơ tay lên trước mặt Đức Trinh Nữ để thông báo một chuyện quan trọng sắp được công bố.

Theo ý nghĩa này, việc Đức Kitô giơ tay phải lên trong các icon cũng ngụ ý Người có điều quan trọng cần nói. Tuy nhiên, với ý nghĩa Kitô học, cánh tay phải giơ lên của Chúa rõ ràng là để ban phép lành. Việc đưa tay như thế được các linh mục bắt chước theo khi chúc lành cho người khác, và cũng được phỏng theo trong các bức icon vẽ về các Thánh Hiển tu. Hơn thế nữa, tư thế các ngón tay của Chúa cũng có các ý nghĩa riêng, được phát triển qua thời gian.

Trong icon Chúa Kitô, các ngón tay của Người đưa theo hình chữ “IC XC” (gọi là kiểu “ICXC”), là các ký tự được dùng phổ biến trong tiếng Hy Lạp để viết tắt Danh Đức Giêsu Kitô (IHCOYC XPICTOC). Chính nhờ Danh Người mà chúng ta được cứu độ và được chúc phúc: “Khi nghe Danh thánh Giêsu, mọi loài trên trời, dưới đất và trong nơi âm phủ đều phải bái quỳ” (Pl 2,10).

Ba ngón tay của Đức Kitô, đi kèm việc tạo hình chữ “I” và “X”, còn có ý chỉ về mầu nhiệm Ba Ngôi Vị hiệp nhất của một Thiên Chúa: Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Ngón áp út và ngón cái chạm nhau để tạo thành chữ “C” và để nói về mầu nhiệm Nhập thể: Sự hiệp nhất giữa thần tính và nhân tính trong con người Chúa Giêsu Kitô.

Ko Ihu te Atua? I a Ihu ake titau ki te waiho i te Atua? ╰⊰¸¸.•¨* Maori (New Zealand)

http://newzealandofmyheart.wordpress.com

NEW ZEALAND OF MY HEART

2016 - 1.jpg

d3442f19045fb060a694db4edfc7d10e.jpg

Ko Ihu te Atua? I a Ihu ake titau ki te waiho i te Atua?

Kua kore i tuhituhia i roto i a Ihu i te Biblia rite mea te kupu pau, “Ko ahau te Atua.” E kore e tikanga, Heoi, e kore i te kauwhau i ia e he ia te Atua. Tikina hoki tauira kupu e Ihu ‘i roto i John 10:30, “Ahau me te Matua, kotahi.” Me anake tatou ki te titiro i te Hurai ‘hohenga ki tona parau ki te mohio i te kī e ia ki te Atua hei. Tamata ratou ki te kohatu a ia mo te take tenei rawa. “…koe, he tangata mere, titau ki te waiho i te Atua” (John 10:33). I matau ki te Hurai rite te mea i a Ihu e kereme-atua. Ite e kore e Ihu whakakahore tana kerēme ki te waiho i te Atua. A, no ka korerotia e Ihu, “Ahau me te Matua, kotahi” (John 10:30), I mea ia e ia, me te Matua, ko o tetahi āhua me te ngako. John 8:58 Ko tetahi tauira. a Ihu whakaaturia, “Korerotia e ahau ki a koutou i te pono, i mua i whanau a Aperahama i, Ko ahau!” Ko te whakautu o nga Hurai te hunga i rongo i tēnei tauākī, ko ki te tango ake kohatu ki te whakamatea ia mo te kohukohu, ka pera me ta te Ture a Mose ki a ratou ki te mahi (Leviticus 24:15).

Reiterates John i te ariā o te atua a Ihu’: “ko te Atua ano te Kupu” me te “ka te Kupu kikokiko” (John 1:1, 14). Āta tohu teie mau irava e, o Iesu te Atua i roto i te kikokiko. Mahi 20:28 parau mai ia tatou, “Kia hepara o te hahi o te Atua, i hokona e ia ki ona ake toto.” Ko wai ka hokona e te hahi-te hahi a te Atua,-ki ona ake toto? A Ihu Karaiti. Mahi 20:28 ta e hokona te Atua tona hahi ki te tona ake toto. Na reira, a Ihu, ko te Atua!

Thomas korerotia te akonga mo Ihu, “Toku Ariki, e toku Atua,” (John 20:28). E kore e whakatika ia Ihu. E akiaki ana Titus 2:13 ia tatou ki te tatari mo te tae mai o to tatou Atua, me te Faaora, a Ihu Karaiti (vakai foki, 2 Pita 1:1). I roto i Hiperu s 1:8, e ai ta te Matua o Ihu, “Ko e pā ana ki te Tama a te kupu ia, ‘Tou torona, e te Atua, ka mau tonu a ake ake, me te tika, ka hei te hepeta o tou kingitanga.’” Kōrero i te Matua ki a Ihu rite “e te Atua” whakaatu i te mea pono a Ihu te Atua.

I roto i te Apokalupo, whakaakona tetahi anahera i te apotetoro ko Ioane ki te koropiko ki te Atua anake (Apokalupo 19:10). E rave rahi mau taime i roto i te karaipiture a Ihu whiwhi koropiko (Matthew 2:11, 14:33, 28:9, 17; Luke 24:52; John 9:38). Kore ia riria iwi mō te koropiko ki a ia. Ki te kore i a Ihu e te Atua, kua korerotia e ia ki te iwi ki te kore e koropiko ki a ia, kia rite ki nga mahi a te anahera i roto i te Apokalupo. He maha atu irava, me irava o te karaipiture e tohe mo te atua a Ihu ‘.

Ko te take i tino nui e kua a Ihu ki te waiho i te Atua, ko e ki te he e kore ia te Atua, tana mate e kore i nava’i ki te utu i te utu mo te hara o te ao (1 John 2:2) kua. He oranga i hanga, i pai kia a Ihu, ki te kahore i ia te Atua, e kore e taea te utu i te utu e hiahiatia ana mo te hara faito ore ki te Atua mure ore. Te Atua anake i taea e utu i tētahi taua whiu e taea. Anake i taea e tangohia e te Atua i runga i te hara o te ao (2 Kolinitoó 5:21), mate, a faahou, whakamatautau ana i runga i te wikitoria hara, me te mate.